CÂU CHUYỆN RAHULA VÀ TRÁCH NHIỆM ĐỐI VớI TUỔI TRẺ
Cập nhật ngày: (24-06-2010)


"Thưa Thầy, hãy giao cho con phần thừa kế của con!". Rahula, 7 tuổi, người con trai duy nhất của Phật, đã nói như thế khi gặp lại phụ thân mà không biết người ấy là phụ thân của mình, sau bảy năm xa cách.

1. Quyền được hưởng thừa kế của người đi trước 

"Thưa Thầy, hãy giao cho con phần thừa kế của con!".

Rahula, 7 tuổi, người con trai duy nhất của Phật, đã nói như thế khi gặp lại phụ thân mà không biết người ấy là phụ thân của mình, sau bảy năm xa cách. Thái tử Tất-đạt-đa lúc ấy đã thành Đức Phật Cồ-đàm, đang khổ hạnh khất thực. Rahula chưa hiểu "phần thừa kế" của cậu là gì mà chỉ vâng lời mẹ, đến níu áo ông thầy tu "xa lạ" là Đức Phật đòi hưởng thừa kế của mình. Thoạt đầu, chuyện đòi thừa kế mang một nghĩa thông thường có tính vật chất: thừa kế của cải. Thân mẫu của Rahula, công nương Da-du-đà-la, ngầm mong cho con mình được thừa hưởng ngôi vị của Đức Phật trong vương quốc của vua Tịnh-phạn như người kế thừa ngôi vua.

Nhưng Rahula đã được hưởng một thừa kế khác mà, khi trả lời sự đòi hỏi của con, Đức Phật, người đã bỏ ngôi báu để trở thành Đấng Giác Ngộ, đã đề nghị và người con chấp thuận. Rahula đi theo Phật, được sự dẫn dắt của Phật.

Trước và ngay sau thời điểm ấy, Rahula, một cậu bé thời Đức Phật, cũng bình thường giống như một cậu bé hay cô bé đời này, giống nhau ở tuổi non, ở tuổi thơ, tuổi chưa thành niên, tuổi đang được nuôi dưỡng, đang được uốn nắn. Ở cái tuổi ấy, mọi người trẻ đều dựa vào người đỡ đầu, những bậc cha mẹ, người đã trưởng thành, phụ thuộc những điều kiện xã hội mà đứa bé sinh ra.

Dù cho trong một điều kiện nào, giàu hay nghèo, sang cả hay cùng đinh, chúng ta hãy nói một điều cơ bản cho tuổi trẻ: người trẻ có quyền và được có quyền đòi hỏi thừa kế gia sản, tài sản của thế hệ ông, cha, mẹ, những người đi trước. Người trẻ phải được dành cho quyền ấy, được hưởng quyền ấy, như một định chế xã hội. Hay nói khác đi, người đi trước có trách nhiệm trao lại di sản cho người đi sau.Trong trách nhiệm xã hội ấy, chính người đỡ đầu có bổn phận đưa ra một chọn lựa cho người trẻ, chọn lựa ấy đi liền với triển vọng giáo dục để người trẻ trở nên con người hoàn thiện. Đồng thời, người trẻ có thể chọn lựa dưới sự hướng dẫn chân thật và thành tâm của người đỡ đầu bước đi tương lai của mình, mặc dù sự chọn lựa ấy chưa hẳn hoàn toàn tự do, còn nằm trong điều kiện xã hội khi mới sinh ra. Một trong những trách nhiệm lớn của người đi trước đối với người trẻ chính là đạo đức hay đời sống tinh thần của con người. Cho nên khi nói về tha hoá đạo đức của lớp trẻ trong xã hội ngày nay, phải truy tầm trách nhiệm xã hội của những người đi trước, có nghĩa, phải xét đến trách nhiệm giáo hóa của người đi trước đối với người trẻ đang học làm người. Hiện nay điều đó đang là một thực tế khẩn yếu.

Đức Phật đã nói với cậu bé La-hầu-la:

"Con biết không, Rahula, ta là cha của con. Theo thường lẽ, các người cha để lại cho con mình những gì họ sở hữu. Đó là phần thừa kế. Ta có ít sở hữu. Cái bình bát này dùng để xin ăn và cái áo này. Đó là tất cả. Điều sở hữu thật sự duy nhất của ta là minh triết và đức tốt. Ta không có "đồ vật". Trong cung điện, con có nhiều đồ dùng đẹp đẻ, áo quần sang trọng, thức ăn ngon và nhiều bạn chơi với con. Đó là phần thừa kế mà ông nội con và mẹ con có thể cho con. Còn bên cha thì không cơ bản chơi đùa, chỉ có thức ăn như trong bình bát này và áo quần như cái áo này. Nhưng bên cha thì người ta có thể học điều mà trong cung điện không thể học được: sự khôn ngoan minh triết, tính tốt và lòng thương người. Đó là phần thừa kế mà ta có thể cho con. Nếu con muốn có nó, con có thể theo ta, đó là điều đẹp nhất mà ta có thể cho con, nhưng nó không thích thú làm đâu".

Cậu bé Rahula nói: "Nếu phần thừa kế của cha là minh triết, điều lành và từ bi, thì con muốn có nó". "Con biết không, Rahula, con có thể thử một vài ngày, có lẽ con sẽ không thích thế. Ví dụ con có thể không ngủ trong nhà và trong giường, mà ngủ trong rừng, dưới nhiều cây". "Như những tên cướp?". "Phải, Rahula, giống như những tên cướp - và những bậc thánh". "Như thế thì con theo". Rahula đi theo các nhà sư. Với tuệ giác, Đức Phật đã dạy cho con tất cả những điều cần học và thực hành về đạo đức, quán tưởng và sự khôn ngoan minh triết.

2. Ba ví dụ trong kinh minh họa ba nguyên tắc cơ bản trong tiến trình giáo hóa người trẻ của Đức Phật

Bằng phương pháp thực nghiệm và ẩn dụ trong đối thoại, chứ không nói lý thuyết suông, không đưa ra những phán đoán mệnh lệnh, Đức Phật đã từng bước hướng dẫn cậu bé La-hầu-la đi đến sự thừa hưởng đích thực phần thừa kế mà cậu chọn lựa và thực hành:

- Không nói dối là điều kiện tiên quyết để bảo vệ sự thật

Mục đích cao nhất của giáo hóa con người là giúp con người tìm ra chân lý. Nhận biết chân lý và sống trung thực với mình với người là điều kiện cho hòa bình nơi tâm và hòa hợp với người khác. Thay vì định nghĩa "chân lý" là gì, đối với một cậu bé, Đức Phật hướng dẫn La-hầu-la nhận chân rằng nói dối, nói sai sự thật là điều tai hại cho chính trái tim của mình bằng cuộc nói chuyện sau đây:

"Rahula, con biết không, với số nước trong cái muỗng cũng giống như với chân lý”. Thưa Phật, giống với chân lý là như thế nào?". Đức Phật cho một ít nước vào cái muỗng và hỏi: "Con có thấy chút nước trong muỗng không?"." Đã thấy"."Nếu có người khi nói không thận trọng, và thực sự không cẩn trọng để luôn luôn đứng trong sự thật, thì sẽ nhận được ít điều lành như chút nước trong cái muỗng này". Rồi Phật hất mạnh tay đổ hết nước khỏi cái muỗng và hỏi cậu bé có nhìn thấy Phật làm gì không."Dạ có".

"Và khi con người không cố gắng luôn nói sự thật, thì họ cũng hất đổ điều lành trong mình ra ngoài như ta vừa đổ nước vậy". Rồi Phật úp cái muỗng lại : "Và nếu con người không cố gắng gìn giữ sự thật thì họ cũng đối xử với điều lành tựa như úp cái muỗng vậy".

Nói xong Phật lại lật ngữa cái muỗng ra: "Con có thấy bây giờ cái muỗng hoàn toàn trống rỗng không?". "Đã thấy". "Cũng như thế, trái tim của những người không cố gắng theo sự thật sẽ trống rỗng như cái muỗng này".

Với những ẩn dụ sống động, được nghe hỏi, quan sát và chứng nghiệm, khái niệm đạo đức "không nói dối" đã được đưa vào tâm và trí của cậu bé một cách đầy thuyết phục và trở thành hành vi đạo đức. Hành động đạo đức "không nói dối" có nghĩa không gì khác hơn là "nói thật” và qua đó bảo vệ sự thật.

- Vận dụng tất cả những khả năng mà con người có được để tìm chân lý và bảo vệ sự thật

Tinh yếu của đạo Phật nằm trong lời dạy cơ bản rất đơn giản mà Phật hướng dẫn cho cậu bé 11 tuổi, đơn giản mà sâu xa vô lượng. Chúng ta nhớ đến câu nói của triết gia Emmanuel Kant "hãy can đảm sử dụng trí tuệ của mình", tuyên ngôn của thời khai sang Âu châu ở thế kỷ 18 đề cao giá trị nhân bản tuyệt đối của con người, khả năng giải phóng con người khỏi tình trạng lệ thuộc người khác, lệ thuộc thế lực, lệ thuộc tham vọng. Trước đó 22 thế kỷ, Đức Phật đã khám phá và thực hiện điều này khi tìm ra chân lý giác ngộ và hướng dẫn cậu bé La-hầu-la còn vị thành niên trên đường đến tuổi trưởng thành. Phương pháp giáo hoá của Phật sinh động nhằm khai mở óc quan sát, phân tích, khả năng trí tuệ hay "tính sáng" của cậu bé và từ đó chính cậu bé nhận ra sự thật, nắm được trí thức đúng đắn, chân thật. Phương pháp này đi từ kinh nghiệm và óc quan sát của chính cậu bé La-hầu-la.

"Này Rahula con, trong thành Ca-tỳ-la-vệ các người có nhiều con voi trận to lớn và dũng mãnh phải không?". "Thưa có, chúng lớn dữ dội và mạnh kinh hoàng!"."Con hãy tưởng tượng con voi trận của hoàng gia. Hãy tưởng tượng nó được đem vào chiến trận. Nó chiến đấu trong đó bằng cách đưa đầu nó ra và đưa hai ngà voi, đưa thân thể mạnh mẽ và bốn chân của nó. Phải chăng người ta đã quên dạy nó điều gì, còn có cái gì mà con voi phải sử dụng nữa không?".

"Thưa cha, rõ ràng là con voi chưa dùng vòi của nó! Một con voi thường có cái vòi hoàn toàn mạnh và cuồn cuộn bắp thịt, nó chưa dùng vòi cho trận đánh".

"Giỏi, Rahula, đúng như thế, người ta chỉ sẵn sàng lâm chiến đúng thực khi người ta sử dụng đầy đủ và toàn diện tất cả những sức mạnh và khả năng mà họ có. Cũng y hệt như thế, ta phải đem hết tất cả sức lực của mình, để không bao giờ nói dối, ngay cả khi chỉ nói dối để đùa vui".

Triết gia thời khai sáng E. Kant đã nhận dịnh không khác Đức Phật khi khẳng định giá trị tuyệt đối của những nguyên lý đạo đức, trong đó châm ngôn "không được nói dối" không thừa nhận một trường hợp ngoại lệ nào. Nhưng, trong khi phạm trù mệnh lệnh đạo đức của Kant trừu tượng hoá con người như một cái khung cần đổ đầy mệnh lệnh, Đức Phật nhấn mạnh con người "đem hết tất cả sức lực của mình" để không bao giờ nói dối.

- Quán sát hành động của thân - quán sát lời nói -quán sát tâm để không nói dối và bảo vệ sự thật. Có thể nói toàn thể đạo đức học Phật giáo nằm trong việc thực hành điều này, xuyên suốt lời dạy của Đức Phật, gồm giới định tuệ (Bát chánh đạo). Giáo lý thâm sâu này đã được Đức Phật truyền lại cho cậu bé La-hầu-la vô cùng đơn giản:

"Này con, hãy nói cho ta nghe, ở trong cung của các người có gương soi không?". "Dạ thưa, dĩ nhiên có nhiều tấm gương!". "Để làm gì vậy?". "Thưa để người ta có thể ngắm, xem mình thật sự có mặc đẹp không, tóc có được uốn đẹp không?" "Vâng, Rahula, xem mình ăn vận và chải tóc có đẹp hay không là không quan trọng, nhưng người ta cũng có thể quan sát mình mà không cần soi gương!". "Thưa, làm thế nào?".

"Thật ra, điều quan trọng nhất khi ta nhìn ngắm ta không phải để xem mình có ăn mặc đẹp hay chải tóc có thẳng hay không, đúng hơn, điều quan trọng nhất là ta quan sát những hành động của ta: những cử chỉ với thân thể, những cử chỉ với ngôn ngữ và những hành động trong tâm hồn. Những điều ấy ta phải quan sát, La-hầu-la ạ".

Kiểm soát hành vi liên quan đến thân-khẩu-ý, để trung thực, để không dối trá, là điều kiện đạo đức tiên quyết trong việc giáo huấn người trẻ thành người tốt trong xã hội. Trách nhiệm ấy nằm trong tay người đi trước cũng như của cả toàn thể xã hội. Sự suy thoái đạo đức, con giết cha, người lớn hành hạ người trẻ, thầy lường gạt trò, người người tham nhũng, không từ đâu khác hơn là từ sự dối trá, việc che đậy sự thật, tình trạng vô minh trong lệ thuộc vật chất, đến từ những người có trách nhiệm giáo dục, đỡ đầu thanh thiếu niên, đến từ cơ cấu xã hội sụt lở nền tảng nhân tính.

Ý thức về trách nhiệm thừa kế di sản mà Đức Phật đã trao tặng và giáo hoá cho cậu bé La-hầu-la, có nghĩa lạc quan về một nền đạo đức Phật giáo mang sức sống và phẩm chất cao quý cho con người của thời đại, có nghĩa, mỗi người Phật tử trong chúng ta, nhân ngày Phật đản, một dạ: "nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả" vận dụng sức mạnh của trí tuệ và ý chí, "không nói dối" để giải phóng di sản tệ hại, hủy diệt nhân tính, xây dựng một truyền thống đạo đức dành cho tuổi trẻ tương lai như một lần La-hầu-la đã nhận ra ý nghĩa của lời Phật dạy qua chứng nghiệm về phần thừa kế mà Đức Phật đã đề nghị cho mình.

La-hầu-la là người trẻ tuổi nhất trong Tăng đoàn đầu tiên của Đức Phật đã biến phần thừa kế của mình thành quả giác ngộ chân lý. Ngài là vị A-la-hán với hạnh đạo đức sáng ngời trong lịch sử Phật giáo và là nguồn hy vọng của tuổi trẻ hôm nay và mai sau.

THÁI KIM LAN

VHPG 106 / 1-6-2010